
* Bài viết đã trình bày tại Sinh hoạt chuyên môn tháng 6/2025 do Ingene Academic Scociety tổ chức
KINH TẾ SÁNG TẠO VÀ ĐẶC TRƯNG TRONG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ SÁNG TẠO Ở VƯƠNG QUỐC ANH VÀ TRUNG QUỐC
Việt Nam đang chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ của các sản phẩm văn hóa trong vài năm trở lại đây với những đầu tư trong chính sách phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Trên thế giới, theo báo cáo Kinh tế sáng tạo năm 2024 của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) các ngành kinh tế sáng tạo tạo ra doanh thu hàng năm đến gần 2,3 nghìn tỷ đô la mỹ trên toàn cầu [1].
Việc đẩy mạnh sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo trên thế giới không còn quá mới mẻ. Trong đó, đặc biệt phải kể đến Vương Quốc Anh với những mục tiêu phát triển dài hạn đầy tham vọng để trở thành một siêu cường trong ngành công nghiệp sáng tạo. Ở phía bên kia lục địa, Trung Quốc lại đang nổi lên như một ông lớn trong nền kinh tế toàn cầu. Họ thực sự là một thị trường cạnh tranh sòng phẳng với các nước phát triển.
Giữa Trung Quốc và Anh Quốc tồn tại nhiều sự đối lập trong điều kiện kinh tế - xã hội, thể chế chính trị và bản sắc văn hóa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quan điểm và việc hoạch định các chính sách quốc gia về phát triển kinh tế sáng tạo. Bài viết sẽ đi vào nhận diện chính sách phát triển nền kinh tế sáng tạo ở Vương Quốc Anh và Trung Quốc nhằm rút ra các đặc trưng trong chính sách. Từ đó có một số thảo luận chung về chính sách phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam.
1. Một số khái niệm
Kinh tế sáng tạo
Tồn tại 02 khái niệm được dịch sang Tiếng Việt dưới thuật ngữ “kinh tế sáng tạo”. Đầu tiên là khái niệm ‘creator economy’. Khái niệm này có xu hướng tập trung vào nhóm chủ thể của nó – tức các nhà sáng tạo ‘creator’. Người sáng tạo trong ngữ cảnh này có thể hiểu là các cá nhân sử dụng các nền tảng và công cụ kỹ thuật số để tạo và kiếm tiền từ nội dung và tác phẩm sáng tạo [2]. Sự xuất hiện của nhóm chủ thể này gắn liền với sự phát triển và bùng nổ của kỹ thuật số, đồng thời là sự chuyển dịch mạnh mẽ của thị trường kinh tế toàn cầu. Peres và cộng sự cho rằng đây là một hiện tượng về kinh tế “được internet tạo điều kiện cho phép các cá nhân sáng tạo nội dung, phát triển lượng khán giả và kiếm tiền từ nội dung đó bằng cách tạo ra một số loại doanh thu” [2].
Khái niệm thứ hai là ‘creative economy’ với nội hàm mang nghĩa nền kinh tế gắn với các ngành công nghiệp sáng tạo ‘creative industries’. Cụm từ kinh tế sáng tạo xuất hiện lần đầu trong tác phẩm “The Creative Economy: How People Make Money From Ideas” của John Howkins xuất bản năm 2001, trong đó khái niệm này được định nghĩa là “giao dịch của các sản phẩm sáng tạo chứa hàng hóa hoặc dịch vụ kinh tế là kết quả của sự sáng tạo và mang giá trị kinh tế” [3]. Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) định nghĩa nền kinh tế sáng tạo là nền kinh tế “dựa trên các tài sản sáng tạo có khả năng tạo ra tăng trưởng và phát triển kinh tế …, với trung tâm của nó là các ngành công nghiệp sáng tạo” [1].
Các ngành công nghiệp sáng tạo
Theo Minh (2022) và Bình (2019), thuật ngữ công nghiệp sáng tạo là một tiếp cận mới, bổ sung trên cơ sở kế thừa khung thống kê cho công nghiệp văn hóa (cultural industries) [4], [5]; khái niệm này dần được thừa nhận thay cho khái niệm công nghiệp văn hóa trước đó và trở thành chiến lược phát triển kinh tế của nhiều nước [5]. Trong công nghiệp sáng tạo, tài năng cá nhân và sản xuất hàng loạt đóng vai trò là đặc trưng chính, công nghệ và truyền thông hiện đại đóng vai trò trong việc sản xuất, quảng bá và phân phối các sản phẩm cuối cùng [6].
UNCTAD phân nhóm các ngành công nghiệp sáng tạo thành các nhóm sau, dựa trên Phân loại công nghiệp chuẩn quốc tế về mọi hoạt động kinh tế (ISIC) sửa đổi lần thứ 05 của Liên hợp quốc:
- Quảng cáo và truyền thông, tiếp thị (Adverstising and marketing);
- Kiến trúc (Architecture);
- Nghe nhìn, đa phương tiện và nhiếp ảnh (Audiovisual, multimedia and photography);
- Sách và xuất bản (Books and publishing);
- Di sản văn hóa và thiên nhiên (Cultural and natural heritage);
- Thiết kế sản phẩm, đồ họa và thiết kế thời trang (Design: product, graphic and fashion design);
- Sản xuất hàng thủ công và các hàng hóa khác (Manufacturing of crafts and design goods);
- Âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật thị giác (Music, performing and visual arts);
- Phần mềm, trò chơi điện tử, máy tính và dịch vụ web (Software, video games, computer and web services);
- Nghiên cứu và triển khai (Research and development) [1].
Việc phân nhóm cụ thể các ngành công nghiệp sáng tạo còn phụ thuộc vào chiến lược phát triển của từng quốc gia. Ngoài ra việc các quốc gia cân nhắc sử dụng thuật ngữ nào giữa công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo cũng tạo nên những khác biệt trong ưu tiên chính sách. Như Việt Nam tiếp cận và hình thành chính sách phát triển cho 12 ngành công nghiệp văn hóa, ở Anh là công nghiệp sáng tạo, hoặc có thể gọi chung là ‘các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo’ (creative and cultural industries – viết tắt CCI) như một số quốc gia châu Âu và Liên minh châu Âu,…
2. Chính sách phát triển kinh tế sáng tạo ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Trước Đại dịch Covid, ngành kinh tế sáng tạo ở Anh Quốc là ngành có đóng góp cao thứ ba trong cơ cấu kinh tế, mang đến gần 116 tỷ bảng Anh chỉ đứng dưới ngành Xây dựng và tài chính – bảo hiểm; thậm chí còn cao hơn cả ngành hàng không vũ trụ, ô tô, khoa học và dầu khí cộng lại; nó cũng mang đến 2.1 triệu việc làm cho công dân nước này trong năm 2019. Dự báo từ năm 2021 rằng sau Đại dịch, ngành kinh tế sáng tạo sẽ có sự phục hồi, gia tăng thêm cho nước Anh đến mức 132 tỷ bảng và thêm gần hai trăm nghìn lao động [7].
Nền kinh tế sáng tạo của Vương Quốc Anh được bản thân nước này khẳng định nằm trong nhóm siêu cường sáng tạo với giá trị kinh tế lớn từ các ngành công nghiệp sáng tạo. Các ngành công nghiệp sáng tạo được họ định nghĩa là “những ngành công nghiệp có nguồn gốc từ sự sáng tạo, kỹ năng và tài năng của cá nhân và có tiềm năng tạo ra của cải và việc làm thông qua việc tạo ra và khai thác tài sản trí tuệ” [8]. Theo phân loại ngành trong phạm vi quản lý của Bộ Văn hóa, Truyền thông và Thể Thao Vương Quốc Anh, các ngành công nghiệp sáng tạo (2022) bao gồm 9 ngành: (Xem tại Bảng 1)
Kế hoạch phát triển công nghiệp sáng tạo mới nhất được Chính phủ Anh Quốc ban hành ngay ngày 23/6/2025 là một phần của Chiến lược phát triển công nghiệp nước này đến 2035. Theo đó, Anh trở thành điểm đến cho đầu tư vào sáng tạo và đổi mới số một thế giới, là nơi tốt nhất để sản xuất và đầu tư vào phim truyền hình, trò chơi điện tử, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật thị giác; quảng cáo và truyền thông, tiếp thị. Kế hoạch đề xuất 04 giải pháp gồm:
- Chuyển đổi các hình thức hỗ trợ xuyên suốt, tập trung vào tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo; tài chính cho các công ty khởi nghiệp trong lĩnh vực sáng tạo; lực lượng lao động; thương mại và xuất khẩu sáng tạo;
- Thúc đẩy tăng trưởng ở 04 tiểu ngành có tiềm năng nêu trên;
- Tập trung cho các cụm liên kết sản xuất công nghiệp sáng tạo;
- Củng cố quan hệ đối tác, hợp tác với các bên liên quan thông qua các thiết chế, đầu tiên là Hội đồng ngành công nghiệp sáng tạo (CIC) [9].
3. Chính sách phát triển kinh tế sáng tạo ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa
Năm 2022, doanh thu từ các ngành công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc đã đạt đến 16,5 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 1676 nghìn tỷ bảng Anh ở tỷ giá hiện tại); Hàng hóa sáng tạo của Trung Quốc dẫn đầu về xuất khẩu sáng tạo trên toàn thế giới, gấp hơn 5 lần Hoa Kỳ - nước xếp thứ hai [1].
Trung Quốc có sự khác biệt rất nhiều so với hệ thống kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới về nền kinh tế, chính trị và bản sắc văn hóa, khiến nó trở thành một nghiên cứu trường hợp rất đặc trưng, tiêu biểu cho nước đang phát triển, có tốc độ tăng trưởng cao và đi theo mô hình xã hội chủ nghĩa. Trung Quốc gọi nhóm các ngành tạo ra giá trị gia tăng trong kinh tế sáng tạo là ‘các ngành công nghiệp văn hóa và liên quan’ (我国文化及相关产业) gồm tập hợp các hoạt động sản xuất, cung cấp các sản phẩm văn hóa và các sản phẩm liên quan đến văn hóa cho công chúng. Hoạt động này được Trung Quốc phân loại thành: (i) sản xuất sản phẩm văn hóa; (ii) sản xuất phụ trợ; (iii) sản xuất các hàng hóa văn hóa là phương tiện vật chất mang sản phẩm văn hóa; (iv) sản xuất các thiết bị chuyên dùng phục vụ sản xuất sản phẩm văn hóa. Các ngành công nghiệp văn hóa được Trung Quốc xác định [10] (Xem tại Bảng 1)
Nền kinh tế sáng tạo dựa trên công nghiệp văn hóa của Trung Quốc có đặc trưng chủ đạo nhất là về nguyên tắc xây dựng, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, xây dựng văn hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc; kiên trì sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc,… [11]. Theo Tân Hoa Xã, một trong những ưu tiên của chính sách phát triển công nghiệp văn hóa nước này là việc nhấn mạnh vào sự liên quan của yếu tố công nghệ và văn hóa theo chiến lược số hóa văn hóa quốc gia, đầu tư vào nghiên cứu và triển khai của các doanh nghiệp sản xuất văn hóa [12].
Năm 2021, Kế hoạch phát triển công nghiệp văn hóa 5 năm lần thứ 14 của khẳng định tập trung vào sự đổi mới sáng tạo trong ngành công nghiệp văn hóa [13]. Tiếp theo đó, kế hoạch phát triển văn hóa 5 năm lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2022 đã hoạch định chính sách phát triển công nghiệp văn hóa chất lượng cao. Trong đó, bao gồm các giải pháp như sau:
- Đẩy mạnh việc số hóa các ngành công nghiệp văn hóa với hệ thống dữ liệu lớn quốc gia làm khởi điểm;
- Cải thiện hệ thống công nghiệp văn hóa hiện đại: chuyển đổi và nâng cấp các doanh nghiệp văn hóa nhà nước tạo ra các thương hiệu văn hóa và doanh nghiệp nổi tiếng; hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực văn hóa; đẩy nhanh sự phát triển các định dạng văn hóa mới gắn với kỹ thuật số,…
- Xây dựng hệ thống thị trường văn hóa đạt chuẩn cao;
- Thúc đẩy khoa học và công nghệ để hỗ trợ cho các ngành công nghiệp văn hóa [13]
4. Một số thảo luận so sánh
Trên cơ sở đề cập qua về một số điểm quan trọng trong chính sách phát triển công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa nêu trên, tác giả khái quát các điểm đáng lưu ý cần thảo luận sau:
a) Về mối liên hệ giữa bối cảnh, đặc điểm quốc gia với chính sách phát triển CCI
Vương Quốc Anh là quốc gia phát triển với nền kinh tế thị trường đặc trưng của chủ nghĩa tư bản với các cơ chế mở và tập trung vào kinh tế tư nhân. Nước này đã tập trung vào sự phát triển các ngành kinh tế sáng tạo từ trước thế kỉ XXI, sớm bậc nhất trên thế giới. Họ đã có một hệ thống kinh tế sáng tạo định hình sớm trên cơ chế thị trường, do đó trong tầm nhìn về kinh tế sáng tạo mang tính quốc tế, toàn cầu và phục vụ cho mục tiêu kinh tế cao. Các yêu cầu của họ đối với nền kinh tế sáng tạo là làm sao thu hút được đầu tư của thế giới vào các ngành sáng tạo của nước họ.
Cũng đặt mục tiêu tầm nhìn đến năm 2035, Trung Quốc khá trái ngược khi họ là nước đang phát triển với nền kinh tế thị trường nhưng chịu sự quản lý khá chặt chẽ của nhà nước (nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc). Về mặt lý luận, trong thể chế xã hội chủ nghĩa, kinh tế chưa phải là ưu tiên hàng đầu của văn hóa. Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong kiến thiết quốc gia về nhiều mặt, trong đó đặc biệt là xây dựng con người xã hội chủ nghĩa. Vì lẽ đó, sự phát triển công nghiệp văn hóa ở Trung Quốc có thêm mục tiêu định hướng và kiến tạo con người, bản sắc quốc gia, đi đôi với nó là sự phát triển về kinh tế. Thể chế chính trị của Trung Quốc cũng tạo ra cấu trúc ngành công nghiệp văn hóa có nhiều khác biệt, gắn chặt với cấu trúc chung của kinh tế Trung Quốc.
b) So sánh các đặc trưng chính sách
Các đặc trưng trong chính sách phát triển CCI giữa Vương Quốc Anh và Trung Quốc được thể hiện trong bảng dưới đây
Cả Trung Quốc và Vương quốc Anh đều chia sẻ tầm nhìn chung về việc trở thành cường quốc về văn hóa/sáng tạo vào năm 2035, nhưng với các cách tiếp cận và trọng tâm chiến lược khác biệt rõ rệt. Trong đó, họ có chung một định hướng tiếp cận rằng sự cần thiết của việc ứng dụng khoa học và công nghệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là rất cấp thiết. Trung Quốc tập trung vào số hóa ngành công nghiệp văn hóa, ứng dụng 5G, dữ liệu lớn, AI, VR/AR, Vương Quốc Anh đề ra mục tiêu về “createch” sự kết hợp giữa văn hóa sáng tạo và công nghệ tiên tiến. Điều này cũng phản ánh rõ bối cảnh quốc tế của sự phát triển kinh tế sáng tạo ở hiện tại.
5. Thảo luận và kết luận
Bài viết đã khái quát và hệ thống 02 quan điểm chính sách phát triển công nghiệp văn hóa và sáng tạo trong nền kinh tế sáng tạo của 02 quốc gia có nhiều khác biệt là Vương Quốc Anh và Trung Quốc. Qua đó nhận thấy việc xác định đúng về mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa trên cơ sở đặc điểm quốc gia là một yếu tố quan trọng. Có thể thấy rằng, cả 2 nước đều đạt được thành tựu lớn trong ngành này, mặc dù họ có những công cụ điều tiết khác nhau, hơn hết là một thể chế chính trị và kinh tế cũng không có nhiều điểm chung.
Dù vậy, trong chính sách của hai nước này đều có sự tương đồng ở việc xác định mục tiêu trở thành một siêu cường về kinh tế sáng tạo. Song với bối cảnh chung của toàn cầu là sự phát triển như vũ bão của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc các nước phải tập trung vào đổi mới, ứng dụng khoa học công nghệ là không tránh khỏi. Cả Anh và Trung Quốc đều tập trung rất mạnh mẽ về vấn đề này trong các văn bản chính sách của họ. Trên cơ sở so sánh, đúc rút một số kết luận, tác giả có một số thảo luận sau đây làm định hướng cho sự phát triển công nghệp văn hóa ở Việt Nam:
- Đảm bảo các nguyên tắc trong xây dựng chính sách phù hợp với thể chế kinh tế - chính trị và định hướng phát triển tổng thể quốc gia;
- Xác định nội hàm của kinh tế sáng tạo, xây dựng danh mục, tiêu chuẩn quốc gia về công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo;
- Về ưu tiên chính sách ở các ngành công nghiệp trọng điểm quốc gia trên cơ sở phân tích các lợi thế và tiềm năng; ưu tiên chính sách đối với các thành phần kinh tế tham gia trong nền kinh tế sáng tạo;
- Quan tâm đến quy hoạch không gian phát triển công nghiệp văn hóa, cấu trúc ngành công nghiệp văn hóa và mức độ can thiệp, điều tiết của nhà nước đối với các chủ thể trong ngành này;
- Tập trung phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo cho kinh tế sáng tạo.
Tài liệu tham khảo:
[1] H. Hà, "Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm năm 2045: Thúc đẩy công nghiệp văn hóa ở tầm cao mới," Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 31 Jan 2025. [Online]. Available: https://bvhttdl.gov.vn/chien-luoc-phat-trien-cac-nganh-cong-nghiep-van-hoa-viet-nam-den-nam-2030-tam-nhin-den-nam-nam-2045-thuc-day-cong-nghiep-van-hoa-o-tam-cao-moi-20250128080329307.htm.[Accessed 22 Jul 2025].
[2] U. Nations, Creative Economy Outlook 2024, Geneve: United Nations Publications, 2024.
[3] Department for Business and Trade, Department for Culture, Media and Sport, "Creative Industries Sector Plan," 23 June 2025. [Online]. Available: https://www.gov.uk/government/publications/creative-industries-sector-plan. [Accessed 29 June 2025].
[4] Renana Peres, Martin Schreier, David A. Schweidel, Alina Sorescu, "The creator economy: An introduction and a call for scholarly research," International Journal of Research in Marketing, vol. 41, no. 3, pp. 403-410, 2024.
[5] J. Howkins, The Creative Economy: How People Make Money from Ideas, Penguin Group (USA) Incorporated, 2001.
[6] H. T. Minh, "Công nghiệp sáng tạo - cách tiếp cận mới để phát triển kinh tế và văn hóa ở thế kỷ XXI," Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, vol. 518, 2022.
[7] L. T. T. Bình, "Công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và sự lựa chọn mô hình phù hợp cho Việt Nam," Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, vol. 11, pp. 38-44, 2019.
[8] Papadaki, E., Kourgiantakis, M., Apostolakis, A., "Sustainability Messages from Cultural and Creative Industries," in Designing Futures, International Conference on Sustainability in Creative Industries, 2025.
[9] U. Nations, Creative Economy Report 2008, Geneve: United Nations Publications, 2008.
[10] Creative UK Group, The UK Creative Industries Unleashing the power and potential of creativity, 2021.
[11] C. M. &. S. Department for Digital, "Government’s 2001 Creative Industries Mapping Document," 9 April 2001. [Online]. Available: https://www.gov.uk/government/publications/creative-industries-mapping-documents-2001. [Accessed 29 June 2025].
[12] 国家统计局设管司, "文化及相关产业分类(2012)," 31 July 2012. [Online]. Available: https://www.stats.gov.cn/sj/tjbz/gjtjbz/202302/t20230213_1902737.html. [Accessed 29 June 2025].
[13] 新华社, "中共中央办公厅 国务院办公厅印发《“十四五”文化发展规划》," 16 August 2022. [Online]. Available: https://www.gov.cn/zhengce/2022-08/16/content_5705612.htm. [Accessed 29 June 2025].
[14] 新华社, "75年来我国文化产业规模扩大、数字化战略扎实推进," 10 March 2024. [Online]. Available: https://www.gov.cn/yaowen/liebiao/202410/content_6978229.htm. [Accessed 29 June 2025].
[15] 文化和旅游部, “十四五” 文化产业发展规划, 2021.