LO ÂU SINH THÁI VÀ CƠ CHẾ THÚC ĐẨY HÀNH ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở THANH NIÊN HÀ NỘI

Ngô Hương Trà - Ngành Tâm lý học - Khoa Tâm lý học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2025 - 2029)
LO ÂU SINH THÁI VÀ CƠ CHẾ THÚC ĐẨY HÀNH ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở THANH NIÊN HÀ NỘI

LO ÂU SINH THÁI VÀ CƠ CHẾ THÚC ĐẨY HÀNH ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở THANH NIÊN HÀ NỘI

* Bài viết là sản phẩm của Dự án nghiên cứu: Mối liên hệ giữa lo âu về biến đổi khí hậu và hạnh phúc tâm lý của thanh niên tại Thành phố Hà Nội.

1. Dẫn dắt

Thực trạng biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường tại Hà Nội đã vượt qua ngưỡng của những dự báo khoa học trên lý thuyết để trở thành những rủi ro hiện hữu, trực tiếp tác động đến trải nghiệm sống hằng ngày của cư dân Hà Nội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Các tác nhân gây ô nhiễm gồm bụi PM2.5, gây tác động lên hệ hô hấp, đặc biệt là gây ra hoặc ảnh hưởng nặng đến người đang mắc các bệnh như bệnh hen cũng như các bệnh đường hô hấp khác [1]. Bên cạnh ô nhiễm không khí, hiện tượng đảo nhiệt đô thị, các đợt sóng nhiệt kéo dài, mưa lớn gây ngập lụt cục bộ cùng sự suy giảm không gian xanh đã đẩy thanh niên Hà Nội vào một môi trường sống chứa đựng nhiều bất an thường trực. Trước những áp lực môi trường mang tính hệ thống này, lo âu sinh thái (eco-anxiety) đang trở thành một trạng thái tâm lý ngày càng phổ biến trong giới trẻ.

Được định nghĩa là sự sợ hãi mãn tính về sự sụp đổ môi trường và cảm giác lo lắng cho tương lai của hành tinh [2], [3], lo âu sinh thái không nên bị coi là một rối loạn tâm lý tiêu cực cần phải triệt tiêu. Ngược lại, bản chất của nó là một phản ứng hợp lý và mang tính xây dựng trước mối đe dọa thực tế mà nhân loại đang đối mặt [4].

Thách thức cốt lõi đối với thanh niên được đề xuất không nằm ở việc xóa bỏ nỗi lo, mà nằm ở khả năng chuyển hóa năng lượng tiêu cực đó thành động lực hành động. Quá trình chuyển hóa này phụ thuộc vào hai nhân tố tâm lý then chốt: chiến lược ứng phó hướng tới ý nghĩa (meaning-focused coping) và niềm tin vào năng lực môi trường (environmental efficacy), qua đó hướng tới việc củng cố hạnh phúc ý nghĩa (eudaimonic well-being) bền vững.

Bài viết lập luận rằng: lo âu về biến đổi khí hậu không nhất thiết dẫn đến sự tê liệt sinh thái (eco-paralysis); khi được kết hợp với các chiến lược ứng phó phù hợp và niềm tin vào hiệu quả tập thể, nỗi lo này có thể được chuyển hóa thành hành động có ý nghĩa, qua đó củng cố sức khỏe tinh thần cho thanh niên Hà Nội. Bài viết là một tổng quan lý thuyết, không thu thập dữ liệu sơ cấp. Mặc dù lo âu sinh thái đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới, các công trình khai thác chủ đề này trong bối cảnh thanh niên Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn còn hạn chế. Trên cơ sở tổng quan và phân tích tài liệu, bài viết này đóng góp một tiếp cận về lý luận và xây dựng khung phân tích cho nghiên cứu lo âu sinh thái và cơ chế thúc đẩy hành động môi trường ở thanh niên Hà Nội.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết được thực hiện theo phương pháp tổng quan tường thuật (narrative review) kết hợp tổng hợp lý luận (conceptual synthesis) nhằm xây dựng khung phân tích cơ chế tâm lý chuyển hóa lo âu sinh thái thành hành động môi trường ở thanh niên. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các tạp chí uy tín bao gồm Journal of Child Psychology and Psychiatry, Journal of Environmental Psychology, Sustainability, BMC Psychology trong giai đoạn 2019-2026. Tra cứu sử dụng kết hợp các tổ hợp từ khóa tiếng Anh ("eco-anxiety", "climate anxiety", "meaning-focused coping", "environmental efficacy", "collective efficacy"), và tiếng Việt ("lo âu sinh thái", "lo âu khí hậu", "hành vi bảo vệ môi trường thanh niên").

Tiêu chí chọn lọc tài liệu tập trung vào:

i) Các nghiên cứu thực chứng đã qua phản biện (peer-reviewed) về tác động lo âu biến đổi khí hậu trên đối tượng thanh thiếu niên;

ii) Các công trình phân tích cơ chế ứng phó hướng tới ý nghĩa và năng lực môi trường;

và iii) Các minh chứng định lượng thực địa mới nhất tại Việt Nam, tuy nhiên, do số lượng công trình nội địa còn hạn chế, phần lớn bằng chứng được tổng hợp từ các nghiên cứu quốc tế có bối cảnh tương đồng.

Các tài liệu sau khi thu thập được phân tích đối chiếu, tổng hợp nhằm đảm bảo tính phù hợp với bối cảnh văn hóa và thể chế tại Hà Nội. Các kết luận chỉ có giá trị như đề xuất lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu.

3. Bản chất của lo âu biến đổi khí hậu

Khác với giả thuyết truyền thống cho rằng sự căng thẳng tâm lý cực độ sẽ gây ra trạng thái tê liệt sinh thái (eco-paralysis), các bằng chứng thực nghiệm gần đây đã chỉ ra mối quan hệ phức tạp hơn giữa lo âu và hành vi. Nghiên cứu của Becht và cộng sự (2024) trên 2.211 thanh thiếu niên nhìn chung cho thấy giữa lo âu khí hậu và hành vi bảo vệ môi trường tồn tại mối liên hệ tuyến tính và cùng chiều [5]. Nói cách khác, khi mức độ lo âu gia tăng, xu hướng tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường của cá nhân cũng tăng theo. Điều đáng chú ý là những người trải nghiệm mức độ lo âu cao nhất thường thuộc nhóm hướng tới giải pháp (solution-oriented), thể hiện mức độ tham gia cao nhất vào các hành động tập thể và thói quen bảo vệ môi trường trong đời sống hằng ngày. Nghiên cứu này cũng tìm thấy rất ít bằng chứng ủng hộ giả thuyết về hiện tượng "tê liệt sinh thái" ở mức độ lo âu cực đoan. Kết quả này gợi ý rằng, xét trên toàn bộ mẫu, lo âu sinh thái có xu hướng là một phản ứng mang tính xây dựng hơn là tê liệt. Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ khả năng tồn tại những khác biệt giữa các nhóm. Mối quan hệ này có thể đảo chiều ở một số nhóm, tuỳ thuộc vào nguồn lực ứng phó, làm gia tăng nguy cơ “tê liệt sinh thái”.

Một phát hiện quan trọng khác đó chính là nghịch lý giữa nhận thức, năng lực và mức độ lo âu. Việc nâng cao nhận thức và năng lực không nhất thiết làm giảm nỗi lo âu; ngược lại, nó thường làm gia tăng cảm xúc này [6]. Khi thanh thiếu niên hiểu rõ hơn về quy mô, tính chất phức tạp của khủng hoảng khí hậu và sự cấp thiết của các giải pháp hệ thống, cảm giác bất an của họ gia tăng tương ứng. Bằng chứng thực nghiệm từ nghiên cứu trên 350 sinh viên đại học tại Việt Nam của Hou và cộng sự (2026) chỉ ra rằng lo âu sinh thái đóng vai trò như một chất xúc tác cảm xúc, trực tiếp kích hoạt cả động lực xanh nội tại (xuất phát từ ý thức trách nhiệm và giá trị cá nhân) lẫn động lực xanh ngoại tại (gắn liền với chuẩn mực và sự kỳ vọng của xã hội) [7]. Sự kết hợp giữa hai nguồn động lực này, cùng với tinh thần trách nhiệm môi trường, được kỳ vọng thúc đẩy mạnh mẽ ý định thực hiện các hành vi bảo vệ môi trường của sinh viên.

4. Các cơ chế tâm lý điều tiết mối quan hệ giữa lo âu sinh thái và hành vi
4.1. Điều kiện chuyển hóa lo âu thành hành động bền vững

a) Cơ chế ứng phó hướng tới ý nghĩa (Meaning-focused coping)

Để hiểu rõ cách thức duy trì hành động môi trường bền vững mà không rơi vào trạng thái kiệt sức (eco-burnout), cần xem xét vai trò của chiến lược ứng phó hướng tới ý. Nghiên cứu dọc của Veijonaho và cộng sự (2025) theo dõi 684 thanh thiếu niên đã làm sáng tỏ tác động theo thời gian của căng thẳng môi trường đối với hành vi. Đối với những cá nhân thiếu các chiến lược ứng phó phù hợp, căng thẳng do biến đổi khí hậu vượt mức trung bình sẽ dự báo sự sụt giảm hành vi bảo vệ môi trường vào năm kế tiếp, do sự quá tải cảm xúc gây cạn kiệt năng lượng nội tại [6].

Ngược lại, đối với nhóm thanh thiếu niên sử dụng chiến lược ứng phó hướng tới ý nghĩa ở mức độ cao, sự căng thẳng lại đóng vai trò là yếu tố dự báo sự gia tăng bền vững của các hành vi môi trường theo thời gian. Chiến lược ứng phó hướng tới ý nghĩa thường không đứng độc lập mà kết hợp với ứng phó tập trung vào vấn đề để giúp thanh niên vừa giải tỏa căng thẳng, vừa duy trì nỗ lực hành động bền bỉ [8]. Chiến lược này tạo ra một vùng đệm tâm lý, cho phép nỗi lo âu tồn tại song song với sự lạc quan mà không làm tê liệt hành vi. Về bản chất, ứng phó hướng tới ý nghĩa không tập trung vào việc loại bỏ cảm xúc tiêu cực, mà hướng đến việc khơi dậy và nuôi dưỡng các cảm xúc tích cực như hy vọng và niềm tin để chúng có thể chung sống với nỗi lo.

Theo Ojala (2012), ứng phó hướng tới ý nghĩa khơi dậy các niềm tin, giá trị và mục tiêu hiện sinh thông qua bốn phương thức nhận thức chính:

i) Tái đánh giá tích cực (positive reappraisal): cá nhân thừa nhận sự nghiêm trọng của biến đổi khí hậu nhưng cố gắng nhìn nhận các khía cạnh hy vọng, chẳng hạn như sự gia tăng nhận thức cộng đồng và làn sóng hành động của giới trẻ.

ii) Sự tin tưởng (trust): thể hiện qua việc đặt niềm tin vào các tác nhân xã hội khác như giới khoa học, các tổ chức môi trường và các giải pháp công nghệ, từ đó giảm bớt cảm giác đơn độc trong cuộc chiến chung.

iii) Tìm kiếm lợi ích (benefit finding): giúp thanh niên nhận diện các giá trị tích cực rút ra từ việc đối mặt với thử thách, như sự phát triển tư duy phản biện, khả năng thích ứng và ý thức trách nhiệm xã hội.

và iv) Điều chỉnh mục tiêu (revisions of goals): cho phép cá nhân bổ sung các ưu tiên mới vào cuộc sống, hướng lối sống cá nhân và định hướng nghề nghiệp gắn liền với sự phát triển bền vững [4].

Việc chủ động ứng phó hướng tới ý nghĩa không chỉ duy trì hành động môi trường mà còn nâng cao hạnh phúc ý nghĩa (eudaimonic well-being) thông qua việc giúp người trẻ cảm nhận được mục đích sống và sự tự chủ khi đóng góp cho cộng đồng [9].

b) Năng lực môi trường (Environmental efficacy)

Năng lực môi trường được định nghĩa là niềm tin rằng các nỗ lực cá nhân hoặc nhóm có thể giảm thiểu biến đổi khí hậu [5]. Các hành vi trong lĩnh vực cộng đồng như tham gia các chiến dịch vận động xã hội, ký tên kiến nghị hay đóng góp vào các dự án môi trường đô thị chịu sự điều tiết mạnh mẽ bởi “năng lực môi trường tập thể” (collective efficacy). Thanh thiếu niên cần tin rằng nỗ lực của tập thể có khả năng tạo ra sự thay đổi mang tính hệ thống trước khi họ bước ra khỏi không gian cá nhân để tham gia vào các hành động xã hội. Nói cách khác, năng lực môi trường tập thể đóng vai trò là cầu nối giữa nhận thức về vấn đề và sự tham gia vào các hoạt động công cộng, đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy các phong trào môi trường có quy mô lớn [10].

Tại một không gian đô thị có tốc độ phát triển nhanh như Hà Nội, cảm giác bất lực cá nhân trước ô nhiễm không khí hay ngập lụt diện rộng là rất phổ biến. Việc tham gia vào các hành động tập thể - như các phong trào làm sạch môi trường do Đoàn Thanh niên tổ chức, chiến dịch giao thông xanh, hay các câu lạc bộ tái chế trong khu dân cư - mang lại những giá trị tâm lý đặc biệt quan trọng. Hành động tập thể giúp thanh niên giải tỏa cảm giác xa lánh xã hội (social alienation), nhận ra nỗi lo của mình được chia sẻ và xóa bỏ cảm giác cô độc trước khủng hoảng toàn cầu. Đồng thời, các dự án cộng đồng tạo ra những kết quả quan sát được cụ thể - một khu phố sạch hơn, một tuyến phố có nhiều cây xanh hơn - từ đó củng cố kỳ vọng kết quả (outcome expectancy) và củng cố niềm tin vào năng lực chung. Như Lazarus và Folkman (1984) đã chỉ ra trong mô hình tương tác về căng thẳng và ứng phó, sự hỗ trợ xã hội từ những người cùng chí hướng chính là nguồn lực ứng phó quan trọng giúp giải tỏa căng thẳng và gia tăng khả năng phục hồi cảm xúc [11]. Những thanh niên thuộc nhóm "hướng tới giải pháp" thường có mức độ năng lực tập thể và niềm tin vào các tác nhân xã hội cao nhất, giúp họ duy trì mức độ hài lòng với cuộc sống ngay cả khi mức độ lo âu của họ cũng ở mức cao nhất [5].

Trong các nghiên cứu quốc tế, hành động tập thể tự phát bộc phát từ động lực nội tại thuần túy và sự phẫn nộ sinh thái. Mô hình này cho phép tính tự chủ cao nhưng dễ khiến người trẻ rơi vào bẫy kiệt sức sinh thái nếu phong trào không tạo ra thay đổi hệ thống. Ngược lại, tại đô thị Hà Nội, phong trào do Đoàn Thanh niên dẫn dắt mang lại một dạng năng lực tập thể đặc thù, trong đó niềm tin của cá nhân rằng các mục tiêu môi trường quy mô lớn có thể đạt được thông qua sức mạnh hợp lực được bảo trợ, điều phối và phân bổ nguồn lực bởi các cấu trúc thể chế chính thống. Đoàn Thanh niên đóng vai trò là hạ tầng kích hoạt an toàn, cung cấp nguồn lực, tính hợp pháp và quy mô tổ chức có sẵn, giúp thanh niên nhanh chóng nhìn thấy tác động thực tế có thể đo lường. Việc chứng kiến kết quả thực tế dưới sự phối hợp diện rộng có thể củng cố trực tiếp niềm tin của thanh niên rằng sự hợp lực này thực sự tạo ra tác động. Tuy nhiên, nếu phong trào bị biến thành chỉ tiêu hành chính khiên cưỡng hay mang tính hình thức, hành động xanh sẽ bị đẩy thành nghĩa vụ cưỡng ép thuần túy, triệt tiêu động lực nội tại và làm suy giảm niềm tin năng lực của thế hệ trẻ.

Trong bối cảnh văn hóa tập thể tại Việt Nam, sự tham gia ban đầu có thể xuất phát từ chuẩn mực đoàn thể hay áp lực xã hội (ngoại tại). Tuy nhiên, khi hành động trong môi trường tập thể an toàn và nhận được sự ghi nhận của xã hội, động lực này dần được cá nhân hóa thành Bản sắc xanh tự thân (Green self-identity) (Pasquariello et al., 2025) [12]. Nghiên cứu hỗn hợp trên 681 người tham gia so sánh giữa Việt Nam và Ý (Nguyen et al., 2025) chỉ ra rằng khái niệm “nhìn xa trông rộng về môi trường” (hyperopia) đóng vai trò như một màng lọc nhận thức, kết nối sự bận tâm cảm xúc hiện tại với các mục tiêu dài hạn [13]. Nhờ màng lọc này cùng bối cảnh văn hóa tập thể đặc thù tại Việt Nam, lo âu sinh thái được điều hướng hiệu quả để chuyển hóa một cách nhất quán thành niềm tin cộng đồng và lan tỏa thành các hành vi tiêu dùng xanh trong đời sống (như tiết kiệm năng lượng, giảm rác thải), thay vì dẫn đến sự phản ứng phân mảnh hay cá nhân hóa trong bối cảnh Ý.

4.2. Trường hợp lo âu dẫn đến quá tải, né tránh và tê liệt

Trạng thái "tê liệt sinh thái" (eco-paralysis) hoặc né tránh không xuất hiện một cách ngẫu nhiên, mà là hệ quả trực tiếp khi nỗi lo môi trường gia tăng vượt ngưỡng chịu đựng trong bối cảnh cá nhân bị cạn kiệt các nguồn lực tâm lý chủ thể.

Trước tác nhân gây căng thẳng mãn tính từ biến đổi khí hậu, việc thiếu vắng các chiến lược ứng phó hướng tới ý nghĩa (như nuôi dưỡng hy vọng và sự tin tưởng) sẽ làm suy giảm nhanh chóng tài nguyên cảm xúc của người trẻ. Theo Veijonaho và cộng sự (2025), ở nhóm có mức độ ứng phó ý nghĩa từ trung bình đến thấp, sự gia tăng căng thẳng khí hậu vượt ngưỡng dự báo sự sụt giảm mạnh mẽ trong hành vi bảo vệ môi trường vào năm kế tiếp [6].

Sự tê liệt này còn trầm trọng hơn bởi sự đứt gãy kết nối với "bản thân tương lai" (future self-continuity). Do các hành vi xanh thường đòi hỏi sự đánh đổi lợi ích ngắn hạn ở hiện tại để đổi lấy kết quả dài hạn ở tương lai, Qin và cộng sự (2024) chỉ ra rằng khi lo âu khí hậu vượt ngưỡng chịu đựng, học sinh bị áp đảo bởi căng thẳng hiện tại, dẫn đến suy giảm khả năng liên kết với bản thân trong tương lai [14]. Việc mất đi cảm thức về tương lai của chính mình triệt tiêu trực tiếp động lực thực hiện các hành động bảo vệ môi trường bền vững.

5. Kết luận và Giới hạn nghiên cứu

Tóm lại, lo âu về biến đổi khí hậu không tự động dẫn đến sự tê liệt hành vi. Trong bối cảnh đô thị Hà Nội với những áp lực môi trường hiện hữu, sự kết hợp giữa chiến lược ứng phó hướng tới ý nghĩa và năng lực môi trường tập thể có thể đóng vai trò là cơ chế chuyển hóa nỗi lo sinh thái thành hành động tập thể bền vững. Quá trình chuyển hóa này giải quyết đồng thời hai mục tiêu: đóng góp giải pháp cải thiện môi trường đô thị và xây dựng sức khỏe tâm lý vững chắc cho thế hệ trẻ.

Bài viết này dừng lại ở mức độ tổng quan lý luận và xây dựng khung phân tích dựa trên tổng hợp dữ liệu thứ cấp. Mặc dù đã có một số nghiên cứu bước đầu [7], các công trình chuyên sâu về lo âu sinh thái tại Hà Nội vẫn còn thiếu; khung lý thuyết này cần tiếp tục được kiểm chứng qua các nghiên cứu định lượng và định tính thực địa chuyên sâu trên đối tượng thanh niên địa phương trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

[1] T. T. N. Nguyen, C. Schindler, M. D. Tran, N. Probst-Hensch, and N. Künzli, "Association of ambient air pollution with lengths of hospital stay for Hanoi children with acute lower-respiratory infection, 2007–2016," Environmental Pollution, vol. 247, pp. 752–762, Apr. 2019, doi: 10.1016/j.envpol.2019.01.115.

[2] S. Clayton, "Climate anxiety: Psychological responses to climate change," Journal of Anxiety Disorders, vol. 74, Art. no. 102263, Aug. 2020, doi: 10.1016/j.janxdis.2020.102263.

[3] P. Pihkala, "Eco-anxiety and environmental education," Sustainability, vol. 12, no. 23, Art. no. 10149, Nov. 2020, doi: 10.3390/su122310149.

[4] M. Ojala, "How do children cope with global climate change? Coping strategies, engagement, and well-being," Journal of Environmental Psychology, vol. 32, no. 3, pp. 225–233, Sep. 2012, doi: 10.1016/j.jenvp.2012.02.004.

[5] A. Becht et al., "Feeling anxious and being engaged in a warming world: Climate anxiety and adolescents' pro-environmental behavior," Journal of Child Psychology and Psychiatry, vol. 65, no. 10, pp. 1270–1282, Oct. 2024, doi: 10.1111/jcpp.14035.

[6] S. Veijonaho, L. Hietajärvi, M. Ojala, and K. Salmela-Aro, "From distress to action? – A three-wave longitudinal study of climate change distress, pro-environmental behavior, and coping strategies among Finnish adolescents," Journal of Environmental Psychology, vol. 105, Art. no. 102676, 2025, doi: 10.1016/j.jenvp.2025.102676.

[7] A. C. Y. Hou, N. T. Duong, V. K. Pham et al., "What drives students' green intentions? A psychological approach," BMC Psychology, vol. 14, Art. no. 93, 2026, doi: 10.1186/s40359-025-03791-w.

[8] A. Rikner Martinsson and M. Ojala, "Patterns of climate-change coping among late adolescents: Differences in emotions concerning the future, moral responsibility, and climate-change engagement," Climatic Change, vol. 177, Art. no. 125, Jul. 2024, doi: 10.1007/s10584-024-03778-3.

[9] C. D. Ryff, "Happiness is everything, or is it? Explorations on the meaning of psychological well-being," Journal of Personality and Social Psychology, vol. 57, no. 6, pp. 1069–1081, Dec. 1989, doi: 10.1037/0022-3514.57.6.1069.

[10]D. Davì, C. Lo Destro, and F. Melchiori, "How does eco-anxiety relate to pro-environmental behavior? A correlational meta-analysis with clinical and social implications," Social Sciences, vol. 15, no. 2, Art. no. 88, 2026, doi: 10.3390/socsci15020088.

[11] R. S. Lazarus and S. Folkman, Stress, Appraisal, and Coping, New York, NY, USA: Springer, 1984.

[12] R. Pasquariello, A. R. Donizzetti, C. Curcio, M. Capasso, and D. Caso, "From values to action: The roles of green self-identity, self-efficacy, and eco-anxiety in predicting pro-environmental behaviours in the Italian context," Sustainability, vol. 17, no. 15, Art. no. 6838, 2025, doi: 10.3390/su17156838.

[13] K. M. Nguyen, N. T. Nguyen, T. L. Ngo, and T. T. Le, "How climate change anxiety enhances sustainable trust and consumption behavior: Evidence from Vietnam and Italy," Business Strategy & Development, Advance online publication, 2025, doi: 10.1002/bsd2.70063.

[14] Z. Qin, Q. Wu, C. Bi, Y. Deng, and Q. Hu, "The relationship between climate change anxiety and pro-environmental behavior in adolescents: The mediating role of future self-continuity and the moderating role of green self-efficacy," BMC Psychology, vol. 12, no. 1, Art. no. 241, Apr. 2024, doi: 10.1186/s40359-024-01746-1.