
* Bài viết đã trình bày tại Tọa đàm Khoa học sinh viên nhân ngày Sở hữu trí tuệ thế giới năm 2025 do Dự án Ingene Academic Society phối hợp tổ chức.
MỞ RỘNG CÁCH HIỂU PHÁP LÝ VỀ HIỆN TƯỢNG TRADEMARK GENERICIDE - ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Khi nào thì sự phổ biến của một nhãn hiệu trong cộng đồng có thể dẫn tới sự lụi tàn của chính nhãn hiệu đó? Nghe có vẻ phản trực giác, nhưng đây lại là đặc trưng của một hiện tượng trong Sở hữu trí tuệ - hiện tượng Trademark Genericide.
Bài viết này không chỉ dừng ở việc cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản về hiện tượng Trademark Genericide, mà còn đi sâu hơn vào phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hiện tượng này. Trên cơ sở thực tiễn, tác giả đề xuất một cách hiểu pháp lý mới cho hiện tượng Trademark Genericide, giúp hoàn thiện hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam và thế giới.
1. Khái niệm nhãn hiệu
Nhãn hiệu (trademark) là thuật ngữ đã được chuẩn hóa trên phạm vi quốc tế. Theo Hiệp định TRIPS, bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam có cách định nghĩa ngắn gọn hơn, nhưng cũng rất đầy đủ: nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau [1].
Dấu hiệu được thể hiện dưới nhiều hình thức như hình ảnh, mùi, âm thanh… Song bài viết này chỉ tập trung vào nhãn hiệu từ ngữ, đặc biệt với dấu hiệu dưới dạng các chuỗi ký tự đơn thuần, không kèm yếu tố đồ họa – tức từ ngữ được bảo hộ bất kể kiểu trình bày. Chẳng hạn, với nhãn hiệu “OISHI” (số bằng 4-0303078-000), chuỗi ký tự “OISHI” được bảo hộ ở mọi kiểu trình bày (font chữ, kích thước, màu sắc). Điểm thú vị nằm ở chỗ: loại nhãn hiệu này có thể hoạt động như một phần của ngôn ngữ.
Dù vậy, cần lưu ý rằng trừ khi nhãn hiệu của bạn là nhãn hiệu nổi tiếng (như COCA-COLA hay Apple), việc bảo hộ các chuỗi ký tự đơn thuần kiểu này chỉ giới hạn trong nhóm hàng hóa được đăng ký hay các nhóm liên quan.
2. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu
Điều kiện quan trọng nhất để dấu hiệu được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu là khả năng phân biệt. Yêu cầu về khả năng phân biệt của nhãn hiệu có thể được so sánh với yêu cầu về tính mới của sáng chế và tính nguyên gốc trong quyền tác giả. Khả năng phân biệt ở đây phải được xem xét dưới góc nhìn của cộng đồng – hiểu đơn giản là nhận thức của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ được đăng ký. Song, việc đánh giá khả năng phân biệt thường được giao cho cơ quan quản lý Nhà nước về Sở hữu trí tuệ, thông qua các thẩm định viên.
Đánh giá khả năng phân biệt của một dấu hiệu, người Mỹ đã chia các dấu hiệu thành 5 cấp độ, theo khả năng phân biệt giảm dần [2]. Cấp độ cao nhất là dấu hiệu mang tính tự tạo (fanciful marks) và thấp nhất là các dấu hiệu các dấu hiệu chung (generic marks) – những dấu hiệu chỉ chung tới phân loại hàng hóa mà nhãn hiệu đó đăng ký. Những từ ngữ chung (generic words), với tư cách là một loại dấu hiệu chung sẽ không thể được đăng ký nhãn hiệu.
Tuy vậy, việc xác định liệu một từ có phải từ ngữ chung hay không vẫn chưa được nhất quán. Có ý kiến cho rằng, từ ngữ chung là những từ được đưa vào từ điển. Điều này không hẳn đúng, chẳng hẳn, với từ bim bim – nếu ở miền Bắc Việt Nam, bạn sẽ thấy từ này được dùng một cách rộng rãi để chỉ chung một loại đồ ăn vặt (tương đương với snack trong tiếng Anh). Vậy dù không được đưa vào từ điển, nhưng độ phổ biến của từ “bim bim” trong cộng đồng là không cần bàn cãi, và rõ ràng nếu tôi muốn đăng ký bảo hộ từ “bim bim” cho sản phẩm đồ ăn vặt, khả năng được chấp nhận có lẽ là bằng không.
3. Dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu và từ ngữ chung
Như vậy, một nguyên tắc cơ bản trong thẩm định nhãn hiệu là: Từ ngữ không thể được bảo hộ nhãn hiệu, nếu nó thay vì đề cập tới hàng hóa của cá nhân, tổ chức cụ thể, lại dùng để chỉ chung loại hàng hóa đó - dưới góc nhìn của cộng đồng.
Hệ thống thông Luật gọi những từ ngữ này là “generic words/ terms” – “từ ngữ chung”, và chúng không thể được sở hữu độc quyền. Quan điểm tương tự được thể hiện trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, tại Điểm b Khoản 2 Điều 74 và Điểm i Khoản 1 Điều 95 [1].
Từ thực tiễn, có hai trường hợp mà dấu hiệu là từ ngữ chung:
- Dấu hiệu đặt theo từ ngữ chung: từ ngữ chung có trước, dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu có sau.
Nói cách khác, từ ngữ này vốn đã được dùng rộng rãi trong cộng đồng để chỉ tới một loại hàng hóa. Sau đó, người ta lại sử dụng nó làm dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu cho loại hàng hóa đó (hoặc các loại hàng hóa tương tự). Những dấu hiệu như vậy đơn giản là không có khả năng phân biệt, và phải bị từ chối bảo hộ ngay từ đầu. Ví dụ vào năm 2025, nếu bạn muốn đăng ký từ “Matcha” làm nhãn hiệu cho loại sản phẩm trà, chắc chắn đơn đăng ký này sẽ bị từ chối.
- Nhãn hiệu trở thành từ ngữ chung: nhãn hiệu có trước, từ ngữ chung có sau.
Xuất phát điểm của từ ngữ này là nhãn hiệu. Sau đó, nó được cộng đồng sử dụng để chỉ chung tới loại hàng hóa mà nhãn hiệu đăng ký. Ở đó, những nhãn hiệu khi trở thành từ ngữ chung sẽ bị chấm dứt hiệu lực - do đã mất đi khả năng phân biệt. Lấy trường hợp của Aspirin làm ví dụ. Ban đầu, Aspirin là nhãn hiệu đăng ký cho sản phẩm dược phẩm của công ty Bayer từ năm 1899. Tuy nhiên, năm 1921, trong vụ kiện ‘Bayer Co. v. United Drug Co’, thẩm phán Learned Hand kết luận: đối với cộng đồng, Aspirin đã trở thành tên gọi chung cho loại thuốc giảm đau có thành phần chính là Axit axetylsalixylic [3]. Từ đó, Aspirin chính thức trở thành một từ ngữ chung ở Mỹ. Về bản chất, đây chính là hiện tượng Trademark Genericide.
4. Bản chất hiện tượng Trademark Genericide
Nội hàm của hiện tượng Trademark Genericide được thể hiện đầy đủ trong phán quyết của thẩm phán Learned Hand trong vụ Aspirin: khi một thuật ngữ vốn từng mang tính tự tạo (fanciful) trở nên gắn liền trong tâm trí cộng đồng như một loại hàng hóa, thay vì một thương hiệu cụ thể, thì thuật ngữ đó sẽ thuộc về cộng đồng và mất đi sự bảo hộ của một nhãn hiệu [3].
Tóm lại, hiện tượng Trademark Genericide xảy ra khi cộng đồng không còn gắn từ ngữ với một nguồn gốc thương mại cụ thể, mà trở thành một từ ngữ chung đề cập đến loại hàng hóa được đăng ký.
5. Thực tiễn hiện tượng Trademark Genericide
Trên thế giới, hiện tượng này đã nhiều lần xuất hiện. Hãy nghĩ về những chiếc thang cuốn thường thấy ở các siêu thị, bạn có biết rằng tên tiếng Anh của nó, “escalator” – thực ra có xuất phát điểm là một nhãn hiệu. Nhưng trong án lệ Haughton Elevator Co. v. Seeberger, tòa đã kết luận: “escalator” đã trở thành một thuật ngữ chung (generic term), và do đó, nó sẽ không còn được bảo hộ như một nhãn hiệu [4]. Điều tương tự cũng xảy ra với “Yo-Yo”, “Videotape”, “Trampoline” và còn nhiều thuật ngữ khác (xem thêm dưới bình luận)
Giờ quay lại Việt Nam nào. Về số lượng, hiện tượng Trademark Genericide được công nhận chính thức ở Việt Nam dừng ở con số…0 tròn trĩnh.
Lý do lớn nhất là do việc bảo hộ nhãn hiệu ở Việt Nam xuất hiện tương đối muộn so với thế giới. Chúng ta bắt đầu bảo hộ nhãn hiệu từ năm 1982, thông qua Nghị định số 197/HĐBT về Điều lệ Nhãn hiệu hàng hóa [5], song còn hạn chế. Năm 2005, sự ra đời của Luật Sở hữu trí tuệ mới khiến việc đăng ký nhãn hiệu phổ biến hơn. Riêng với hiện tượng Trademark Genericide, nó thậm chí chỉ vừa được đề cập trong bản cập nhật mới nhất (năm 2022) của Luật Sở hữu trí tuệ.
Cần hiểu rằng, Trademark Genericide thường diễn ra sau một khoảng thời gian tương đối dài (thường là vài chục năm), kể từ thời điểm nhãn hiệu được bảo hộ lần đầu. Song vài chục năm trước thì chúng ta còn chưa bắt đầu bảo hộ nhãn hiệu.
Công bằng mà nói, chúng ta cũng có những trường hợp gần giống với Trademark Genericide. Bạn còn nhớ ví dụ “bim bim” chứ? Thực chất, từ “bim bim” bắt nguồn từ tên một sản phẩm của Công ty bánh kẹo Hải Hà Kotobuki. Nó là một trong những mặt hàng snack đầu tiên xuất hiện ở miền Bắc, có lẽ trẻ em thích ăn nên gọi nhiều thành quen, dần dần bim bim trở thành tên gọi phổ biến để chỉ chung sản phẩm snack. Ví dụ giờ bạn được nhờ đi mua gói bim bim, thì bạn sẽ hỏi lại là bim bim Oishi hay bim bim Poca, thay vì đi mua đúng cái sản phẩm của Hải Hà Kotobuki.
Giả sử một thế giới song song, bằng cách nào đó, ngay khi giành độc lập năm 1945, chúng ta đã có Luật Sở hữu trí tuệ và “BimBim” được bảo hộ nhãn hiệu cho sản phẩm bánh kẹo. Song trẻ em vẫn yêu mến đến mức dùng từ “bim bim” để chỉ chung mọi loại snack, thì đó là cách một nhãn hiệu có thể trở thành từ ngữ chung.
Quay lại thực tại, Hải Hà Kotobuki đã đăng ký nhãn hiệu “BimBim” và được cấp bằng đầu năm 2025. Nhưng do “bimbim” đã trở thành từ ngữ chung để chỉ loại sản phẩm nhãn hiệu đăng ký – snack (nhóm 30), nhãn hiệu chỉ được bảo hộ tổng thể, không bảo hộ riêng “BimBim”.
6. Đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về hiện tượng Trademark Genericide
- Theo Khoản 3 Điều 1064 Luật Nhãn hiệu Hoa Kỳ, đơn yêu cầu hủy bỏ bảo hộ nhãn hiệu có thể được nộp... bất cứ lúc nào nếu nhãn hiệu đã đăng ký trở thành tên chung của hàng hóa hoặc dịch vụ [6].
- Theo Điểm i Khoản 1 Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, văn bằng bảo hộ bị chấm dứt toàn bộ hoặc một phần hiệu lực khi nhãn hiệu được bảo hộ trở thành tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ đăng ký cho chính nhãn hiệu đó [1].
Có thể thấy, cách hiểu hiện tại về “Trademark Genericide” trong hệ thống pháp luật quốc tế vẫn bị bó hẹp ở phương diện nhãn hiệu trở thành tên gọi thông thường (tên chung) – xét theo từ loại là danh từ. Đồng nghĩa với việc pháp luật đang bỏ ngỏ khả năng nhãn hiệu trở thành các từ loại khác như động từ, tính từ. Điều này đặt ra câu hỏi về tính đầy đủ và thích ứng của pháp luật nhãn hiệu, trong bối cảnh ngôn ngữ linh hoạt và truyền thông đại chúng bùng nổ.
Hãy lấy trường hợp của nhãn hiệu Google làm ví dụ.
Trong vụ kiện giữa Elliot và Google, nguyên đơn Elliot trước đó đã đăng ký hơn 760 tên miền chứa từ “google”, nhưng bị Google Incorporated phản đối và khiếu nại lên Diễn đàn Trọng tài quốc gia. Theo quyết định của trọng tài, các tên miền sau đó được chuyển cho Google Incorporated [7]. Không đồng ý với quyết định này, Elliot đệ đơn yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu Google, vì nó đã trở thành từ ngữ chung.
Lý lẽ chính nguyên đơn đưa ra là: “Google không còn là một nhãn hiệu, mà đã trở thành một động từ phổ thông dùng để chỉ hành động tìm kiếm trên Internet”. Tức phía nguyên đơn cho rằng: đã có hiện tượng Trademark Genericide, nên Google không còn là nhãn hiệu được bảo hộ pháp lý. Tuy nhiên, tòa án lại cho rằng: dù “google” có thể được dùng như một động từ, công chúng vẫn nhận thức rằng hành động đó diễn ra trên công cụ tìm kiếm của chính Google Incorporation. Vì vậy, không hề có hiện tượng Trademark Genericide [7].
Phán quyết cuối cùng được đưa ra là: không có hiện tượng Trademark Genericide. Nghe có vẻ mọi thứ đang không ủng hộ quan điểm “Trademark Genericide có thể bao gồm cả động từ hóa” ở trên lắm nhỉ? Nhưng nếu xem xét cẩn thận, ta sẽ thấy Google thắng vì sự “động từ hóa” chưa khiến công chúng ngừng nhận biết Google là một thương hiệu/ nhãn hiệu cụ thể. Song cũng có nghĩa là Trademark Genericide không hề loại trừ việc nhãn hiệu trở thành động từ (có liên quan trực tiếp đến loại hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu)
Thử xem xét một ví dụ gần hơn với Trademark Genericide. Khi tôi gửi hình anh 7 chọ Cristiano Ronaldo vô địch World Cup cho các bạn tôi, một số người nói “nhìn là biết ảnh được photoshop”. Một tình huống rất quen thuộc với chúng ta, khi từ photoshop được dùng như động từ, có nghĩa là chỉnh sửa ảnh bằng phần mềm đồ họa. Thực tế thì bạn không quan tâm và cũng không biết tôi chỉnh sửa bằng công cụ nào (Capcut, Canva, GIMP, Affinity Photo, hay Photoshop). Tức là khi này, thuật ngữ “photoshop” thay vì gắn với một sản phẩm cụ thể của Adobe, lại gợi trong đầu bạn về việc chỉnh sửa ảnh bằng phần mềm đồ họa nói chung. Khác với sự độc tôn tuyệt đối như Google Search, Photoshop hiện tại có rất nhiều công cụ chỉnh sửa ảnh khác cạnh tranh, và kịch bản động từ hóa có thể xảy ra khiến công chúng không còn ý thức rằng “photoshop” là một nhãn hiệu cụ thể.
Không phải ngẫu nhiên mà Adobe đã nhiều lần kêu gọi, nhắc nhở khách hàng và đối tác của họ, ngừng sử dụng “photoshop” như một động từ thông dụng [8]. Sự cảnh giác của Adobe cho thấy: việc “photoshop” trở thành từ ngữ chung (động từ), đang được họ nhìn nhận là một nguy cơ làm suy yếu khả năng phân biệt của nhãn hiệu Photoshop. Trong trường hợp xấu nhất, Adobe có thể mất nhãn hiệu Photoshop, nếu họ bị kiện như Google.
7. Kết luận
Mặc dù pháp luật hiện hành chưa từng tuyên bố hiện tượng TrademarkGenericide xảy ra trên cơ sở động từ hóa, nhưng trong bối cảnh giao tiếp hiện đại và sự lan tỏa ngôn ngữ phi tuyến qua mạng xã hội, không thể loại trừ khả năng rằng động từ hóa có thể dẫn đến sự mất hoàn toàn chức năng phân biệt của nhãn hiệu.
Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng pháp luật hiện hành cần thừa nhận những thay đổi trong ngôn ngữ, xem xét mở rộng cách hiểu về Trademark Genericide (ngoài tên gọi thông thường) trong bối cảnh ngôn ngữ truyền thông kỹ thuật số hiện đại.
Tài liệu tham khảo
[1] Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022 số 07/2022/QH15, 2022.
[2] I. Mishra, "Distinctive Spectrum in the Realm of Trademark Law," IJLSI, vol. 3, no. 4, pp. 200-205, 2021. DOI: https://doij.org/10.10000/IJLSI.11886
[3] Bayer Co. v. United Drug Co., 272 F. 505 (S.D.N.Y. 1921), 1921. Truy cập tại: https://cyber.harvard.edu/metaschool/fisher/domain/tmcases/bayer.htm
[4] Haughton Elevator Co. v. Seeberger, 85 U.S.P.Q. 80, 1950. Truy cập tại: https://courtroomcast.lexisnexis.com/acf_cases/10143-haughton-elevator-company-v-seeberger
[5] Nghị định 197-HĐBT Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa, 1982.
[6] Trademark Act of 1946, 1946.
[7] Elliott v. Google, Inc., No. 15-15809 (9th Cir. 2017), 2017. Truy cập tại: https://law.justia.com/cases/federal/appellate-courts/ca9/15-15809/15-15809-2017-05-16.html
[8] Adobe, "General trademark guidelines," Adobe Confidential, 2021. Truy cập tại: https://www.adobe.com/cc-shared/assets/pdf/legal/documents/adobe-trademark-guidelines.pdf?msockid=0d36cc8a3e2d627a3f06d9de3f4b6369