TIẾP CẬN ĐA CHIỀU ĐỐI VỚI HỌC TẬP SUỐT ĐỜI TRONG BỐI CẢNH BÙNG NỔ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

Nguyễn Đỗ Duy Quân - Ngành Khoa học Quản lý - Khoa Khoa học Quản lý – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2022 - 2026)
TIẾP CẬN ĐA CHIỀU ĐỐI VỚI HỌC TẬP SUỐT ĐỜI TRONG BỐI CẢNH BÙNG NỔ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

* Bài viết được thực hiện trên cơ sở các tham luận trình bày tại Tọa đàm Khoa học sinh viên hưởng ứng Tuần Lễ học tập suốt đời năm 2025 của Ingene Academic Society

TIẾP CẬN ĐA CHIỀU ĐỐI VỚI HỌC TẬP SUỐT ĐỜI TRONG BỐI CẢNH BÙNG NỔ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO

1. Đặt vấn đề

Năm 2019, với những dự báo về tác động của trí tuệ nhân tạo đối với giáo dục, đại diện của hơn 100 quốc gia thành viên của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc đã thống nhất thông qua Đồng thuận Bắc Kinh về Trí tuệ nhân tạo (AI) và giáo dục. Tài liệu kêu gọi các quốc gia xem xét việc hoạch định chính sách về giáo dục để ứng phó các cơ hội và thách thức đến từ trí tuệ nhân tạo [1]. Và chỉ trong khoảng 5 năm vừa qua, nhân loại đã chứng kiến hàng loạt những bước đi đột phá trong khoa học và công nghệ làm chuyển đổi mạnh mẽ công việc và đời sống kinh tế - xã hội. Trong đó, trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng phát triển theo hướng phổ cập, các công cụ trí tuệ nhân tạo tạo sinh (GenAI) thường xuyên được sử dụng trong các hoạt động giáo dục và đào tạo, làm đẩy nhanh tốc độ phát triển chung của các lĩnh vực và ngành nghề khác. Dòng chảy công nghệ liên tục đổi mới nhất thiết gây ra sự tụt hậu dễ dàng đối với một bộ phận cộng đồng khó tiếp cận với các thành tựu khoa học – công nghệ. Song, với những nhóm có lợi thế trong tiếp cận công nghệ vẫn tồn tại những thách thức và rủi ro trước bối cảnh phát triển quá nhanh chóng và những cơ hội trước mắt mà công nghệ mang lại.

Đồng thời, trong giai đoạn phát triển mới này giáo dục cũng đóng vai trò cốt lõi trong việc điều chỉnh hành vi con người để thích ứng, hòa nhập nhưng không đánh mất giá trị bản thân, tư duy và bản lĩnh. Việt Nam xác định rằng, đến năm 2045, với hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại, mọi người dân đều có cơ hội học tập suốt đời,… phát triển tối đa tiềm năng cá nhân [2]. Học tập suốt đời với tư cách một mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc đóng vai trò thay đổi cuộc sống nhân loại thông qua giáo dục. Tuy mục tiêu SDGs không còn quá nhiều thời gian để thực hiện, nhưng ước tính rằng còn có đến 250 triệu trẻ em và thanh thiếu niên chưa được đến trường, trung bình cứ bảy người trẻ và người lớn thì có 1 người thiếu kỹ năng đọc viết cơ bản, thậm chí không bàn đến khả năng sử dụng công nghệ [3]. Còn khi nhắc đến công nghệ, khoảng cách trong ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo càng làm trầm trọng và khó khăn thêm trong hoàn thành mục tiêu học tập suốt đời. Mặt khác, người ta cũng cho rằng, các công nghệ và trí tuệ nhân tạo góp phần thúc đẩy nhanh việc kiến tạo một xã hội học tập và đảm bảo tiếp cận học tập đầy đủ hơn. Trong Đồng thuận Bắc Kinh 2019, các quốc gia cho rằng AI trở thành công cụ then chốt trong xây dựng các hệ thống học tập suốt đời [1]. Song đối với học tập suốt đời, nghiên cứu của UNESCO cũng chỉ ra hai thách thức lớn trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo là: 1- Đảm bảo sử dụng AI có đạo đức; 2- Thiết kế cấu trúc của AI hẹp đối với mục tiêu học tập [4]. Do đó, trong bối cảnh sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, các quan điểm về học tập suốt đời nhất thiết phải có sự chuyển đổi, và phải liên tục chuyển đổi để tận dụng cũng như làm cho nó trở nên phù hợp. Thêm vào đó, cần tiếp cận học tập suốt đời với góc nhìn đa chiều, từ nhiều lĩnh vực trong nhận diện thực trạng và hướng tới các giải pháp quản lý xã hội trong chính sách giáo dục toàn diện của quốc gia.

Bài viết này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng của học tập suốt đời, sau đó đề xuất một cách tiếp cận đa chiều nhằm nhận diện các khía cạnh liên quan trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo bùng nổ. Tác giả luận giải dựa trên 03 trụ cột: 1-Cá nhân và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo để nhận thấy cơ hội, năng lực và trách nhiệm của người học; 2- Vai trò của gia đình, tổ chức và trường học xoay quanh cá nhân trong xã hội học tập; 3- Vai trò của cộng đồng trong học tập suốt đời.

2. Giải thích các khái niệm

Học tập suốt đời

Bàn về học tập suốt đời (lifelong learning), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp Quốc (UNESCO) là tổ chức đi đầu trong nghiên cứu chính sách và triển khai các hoạt động học tập suốt đời trong nhiều thập kỷ vừa qua. Trong quyển cẩm nang về học tập suốt đời của tổ chức này (Making lifelong learning a reality: a handbook), UNESCO khẳng định học tập suốt đời là một khái niệm quan trọng trong chinh sách giáo dục trên quốc tế và của một quốc gia. Về khái niệm, UNESCO định nghĩa rằng: “học tập suốt đời bao gồm các hoạt động học tập dành cho mọi lứa tuổi, trong mọi bối cảnh cuộc sống và thông qua nhiều phương thức khác nhau, đáp ứng được nhiều yêu cầu và đòi hỏi học tập khác nhau” [5].

Trong khái niệm này, ta thấy có các yếu tố sau cần tiếp tục làm rõ. Đầu tiên là về đối tượng của học tập suốt đời là mọi lứa tuổi, bắt đầu từ khi sinh ra và kéo dài hết cuộc đời; với mọi xuất thân và cơ hội học tập và bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc sống cũng như nghề nghiệp khác nhau. Thứ hai là về các phương thức học tập, UNESCO cho rằng cần phải triển khai học tập suốt đời với mọi hình thức học tập, mọi lĩnh vực và không gian học tập với mọi cấp độ giáo dục. Trong đó các hình thức học tập được liệt kê bao gồm: chính quy, phi chính quy (được thể chế hóa) và phi chính quy (không được thể chế hóa); các lĩnh vực và không gian học tập có thể là gia đình, cộng đồng, nơi làm việc, thư viện, bảo tàng, học tập trực tuyến và từ xa. Thứ ba là về các mục đích của người học, mang đến cho mọi người cơ hội phát triển năng lực và đạt được tiềm năng của mình trong suốt cuộc đời với nhiều nhu cầu và đòi hỏi học tập các nhau [5].

Gắn với học tập suốt đời, các nhà hoạch định chính sách giáo dục còn đề cập đến khái niệm ‘xã hội học tập’. Theo Phạm Tất Dong, xã hội học tập “là một mô hình giáo dục mở, trong đó mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ học tập suốt đời”, nó gồm các hệ thống giáo dục ban đầu (trường lớp chính quy) và hệ thống giáo dục tiếp tục (các cơ sở giáo dục không chính quy và các thiết chế liên quan khác) [6].

Học tập suốt đời trong bối cảnh bùng nổ của trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) là một lĩnh vực khoa học thuộc khoa học máy tính nghiên cứu về quá trình tư duy của con người và tái tạo lại tư duy đó thông qua các hệ thống thông tin [7]. Trí tuệ nhân tạo còn là một thành tựu công nghệ nổi bật trong Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với những sự vượt trội bởi hệ thống các thuật toán giúp nó có thể thực hiện được cách hành vi tư duy, hoặc hỗ trợ thực hiện các tác vụ khác như con người.

Các nghiên cứu về lý thuyết trong khoa học về trí tuệ nhân tạo vốn đã bắt nguồn từ thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 3 (cuộc cách mạng khoa học và công nghệ ở thế kỉ XX). Từ đó đến nay, trí tuệ nhân tạo đã tạo ra nhiều thành tựu làm thay đổi bộ mặt của kinh tế - xã hội thế giới. Trong đó, thành tựu gần nhất và tạo ra cuộc cách mạng mới trong việc phổ cập các ứng dụng của trí tuệ nhân tạo là việc xuất hiện của các mô hình ngôn ngữ lớn và trí tuệ nhân tạo tạo sinh (điển hình là sự ra đời của ChatGPT của OpenAI). Từ lúc này, hàng loạt các nghiên cứu, phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo bắt đầu bùng nổ và dẫn đến hiện tượng AI trên toàn cầu.

Bắt nguồn từ các khía cạnh được UNESCO bàn luận bên trên, tác giả sẽ phân tích về bối cảnh AI trên từng khía cạnh. Trước hết về đối tượng học tập suốt đời, rõ ràng trí tuệ nhân tạo đã tạo ra cơ hội tiếp cận công nghệ mới đến ngày càng rộng trên thế giới, tuy nhiên việc tiếp cận vẫn chưa phải đồng đều do hệ quả từ việc phủ sóng của công nghệ nói chung. Việc AI ngày càng ảnh hưởng đến các hoạt động giáo dục, tiếp cận và năng lực sử dụng AI của người học trở nên đặc biệt quan trọng, có tác động trực tiếp đến các hoạt động học tập. Ngoài ra, các yếu tố đạo đức trong nghiên cứu, sử dụng trí tuệ nhân tạo cũng tạo ra những thách thức đối với lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ. Thứ hai, về các phương thức học tập, chỉ riêng các thành tựu công nghệ về internet đã tạo ra nhiều chuyển biến làm các phương thức học tập trở nên đa dạng. Hiện tại, với các công dụng của trí tuệ nhân tạo, người học đã có thể tự tạo thành cho mình một trợ lý ảo nhằm hỗ trợ các tác vụ trong học tập. Ngoài ra, trí tuệ nhân tạo cũng tạo ra những lớp học kiểu mới, với sự hỗ trợ trong nhiều công việc của người dạy và cả người học, hoặc thậm chí là những lớp học ảo tạo thuận lợi cho học tập trực tuyến và học tập từ xa. Cuối cùng là về mục đích và các yêu cầu của người học. Sự phát triển của công nghệ nói chung và trí tuệ nhân tạo nói riêng đều khiến các yêu cầu, đòi hỏi của con người, người học được nâng cao. Điều này vừa dẫn đến việc các thiết chế giáo dục, chính sách giáo dục cần phải đáp ứng, đồng thời trí tuệ nhân tạo cũng không ngừng phát triển theo nhu cầu của người sử dụng, biến nó trở thành một bộ phận trong xây dựng học tập suốt đời và xã hội học tập.

3. Các khía cạnh trong tiếp cận đa chiều về học tập suốt đời trong bối cảnh bùng nổ của trí tuệ nhân tạo

Như đã trình bày, trong bối cảnh bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, việc hoạch định các chính sách xây dựng xã hội học tập, đảm bảo quyền học tập suốt đời của người dân cần thiết phải có tiếp cận đa chiều. Việc nhận diện đầy đủ và toàn diện các khía cạnh về học tập suốt đời trong bối cảnh mới là cần thiết để xác định các giải pháp quản lý giáo dục và khoa học – công nghệ.

Trong bài viết, việc tiếp cận đa chiều được hiểu là việc phân tích các khía cạnh về học tập suốt đời trên 03 trụ cột: 1- Cá nhân và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo; 2- Vai trò của gia đình, tổ chức và trường học xoay quanh cá nhân trong xã hội học tập; 3- Vai trò của cộng đồng trong học tập suốt đời.

3.1. Cá nhân và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo mở ra cơ hội tiếp cận công nghệ mới đối với nhân loại, các ứng dụng của trí tuệ nhân tạo ngày càng được phổ cập sâu rộng. Dẫu rằng, việc phát triển các ứng dụng trí tuệ nhân tạo mang đến cơ hội đầy đủ hơn, song trên nhiều mặt, trí tuệ nhân tạo chưa thế giải quyết được bài toàn về công bằng đối với người học. Việc tiếp cận trí tuệ nhân tạo còn phụ thuộc vào tiếp cận đối với mạng thông tin toàn cầu internet, tiếp cận đối với thiết bị công nghệ, và ảnh hưởng từ chính sách về trí tuệ nhân tạo của quốc gia,…

Theo quan điểm về học tập suốt đời, con người luôn giữ vị trí chủ thể trung tâm, là nhân tố quyết định việc kiến tạo xã hội học tập. Trong bối cảnh AI, vai trò cốt lõi này tuyệt đối không thể thay đổi. Dù nhiều nghiên cứu bày tỏ sự nghi ngại về việc AI sẽ tước đi cơ hội và thay thế vai trò của con người, nhưng với cách tiếp cận của học tập suốt đời, con người vẫn là chủ thể tự chủ, hoàn toàn làm chủ trước làn sóng AI mạnh mẽ này.

Truyền thông trong thời đại AI cũng liên tục nhấn mạnh đến các rủi ro và thách thức đối với người học. Các diễn ngôn về trí tuệ nhân tạo trên báo chí và phương tiện thông tin đại chúng ảnh hưởng lớn đến thái độ, kỳ vọng của người học và phần nào cũng phản ánh thực trạng. Song, nó cũng tạo tác động không mấy tích cực khi nguy cơ dẫn người học đến việc chủ quan với những lợi ích và cơ hội mà trí tuệ nhân tạo tạo ra. Về cơ bản, với cái nhìn từ được phản ánh từ thực trạng là điều kiện để các nhà hoạch định chính sách giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ có những cơ sở điều chỉnh, hướng đến phát triển năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo toàn diện cho người học hướng đến mục tiêu học tập suốt đời.

Năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo bên cạnh các yếu tố về ứng dụng, sáng tạo,… cần phải đặt đạo đức trí tuệ nhân tạo như một hạt nhân không thể thiếu trong mọi khía cạnh. UNESCO cũng có các khuyến nghị về đạo đức trí tuệ nhân tạo, và họ xác định ần khuyến khích các nghiên cứu về việc sử dụng AI có trách nhiệm và đạo đức trong cả giảng dạy lẫn học tập. Điều này cần song hành với việc đánh giá, kiểm soát chất lượng, và quan trọng nhất là đảm bảo tính khoa học nghiêm ngặt [8]. Việc phát triển năng lực AI cần phải gắn chặt với nguyên tắc liêm chính học thuật và khoa học trong mọi hoạt động nghiên cứu và học tập. Đặc biệt với môi trường giáo dục tinh hoa, nguồn gốc của sự phát triển của khoa học và công nghệ, việc hướng dẫn người học sử dụng AI có chuẩn mực, đạo đức là cấp thiết, tránh các hệ quả tiêu cực đến nền giáo dục và khoa học công nghệ vĩ mô của quốc.

3.2. Vai trò của gia đình, tổ chức và trường học

Trong bối cảnh bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, việc kiến tạo một xã hội học tập suốt đời không chỉ là nói đến trách nhiệm cá nhân mà còn đòi hỏi sự tham gia tích cực từ các thiết chế xã hội cơ bản. Gia đình, tổ chức (nơi làm việc) và trường học là ba trụ cột quan trọng nhất, đóng vai trò nền tảng trong việc hình thành và phát triển năng lực học tập thích ứng với thời đại AI.

Gia đình là thiết chế giáo dục phi chính quy trong một xã hội học tập, nơi nuôi dưỡng từ tâm hồn cho đến tri thức với đặc trưng là nơi các thế hệ chia sẻ và học tập lẫn nhau. Từ đây, học tập suốt đời được biểu hiện trong gia đình bằng hình thức học tập liên thế hệ - tức việc học diễn ra giữa các nhóm tuổi và thế hệ khác nhau [9]. Trong gia đình, học tập liên thế hệ diễn ra như một quá trình tự nhiên, có tính tương tác giữa các thế hệ. Điều này thể hiện vô cùng rõ nét trong thời đại bùng nổ của trí tuệ nhân tạo khi các thành viên trong gia đình tương tác lẫn nhau trong việc học tập cách thức ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong đời sống. Lúc này, việc học tập liên thế hệ truyền thống (cha mẹ, ông bà chỉ dạy cho con, cháu) không còn là một đặc trưng của hình thức học tập này nữa. Mà thay vào đó, tiếp cận ngược lại của học tập liên thế hệ (con cái là chủ thể có tương tác với ông bà, cha mẹ) lại càng thể hiện rõ hơn khi thế hệ trẻ là đối tượng có cơ hội được tiếp cận với trí tuệ nhân tạo hơn hẳn các thế hệ khác. Tuy vậy, gia đình cũng là nơi nuôi dưỡng về mặt tâm hồn, nền móng cho việc sử dụng AI có trách nhiệm và đạo đức xuất phát từ những lo ngại của thế hệ trước khi đối mặt với bùng nổ của trí tuệ nhân tạo.

Các tổ chức (nơi làm việc, công tác của người học) là các thiết chế đang chịu tác động mạnh mẽ nhất của AI và công nghệ số. Khi chuyển đổi số là xu hướng bắt buộc, tổ chức trở thành nơi thúc đẩy việc học tập suốt đời gắn với các nhu cầu thực tiễn của nó. Tổ chức là nơi AI được tích hợp trong công việc, tạo tác động trực tiếp đến hoạt động thường ngày của con người trong tổ chức. Học tập suốt đời trong tổ chức tức gắn hoạt động đào tạo của tổ chức theo định hướng học tập suốt đời, hình thành văn hóa học tập suốt đời… Việc triển khai học tập suốt đời tại các tổ chức nơi người học công tác là đáp ứng được mọi nhu cầu, thỏa mãn được yêu cầu học tại mọi không gian, lĩnh vực của học tập suốt đời.

Tại trường học, nơi triển khai các hình thức học tập chính quy và phi chính quy là thiết chế cốt lõi trong kiến tạo xã hội học tập. Trường học là gọi chung cho các cơ sở giáo dục ban đầu thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, và cả các cơ sở giáo dục tiếp tục phi chính quy, đặc biệt là hệ thống các thiết chế giáo dục cộng đồng. Ngoài ra, các hình thức giáo dục phi chính quy cũng ngày càng phát triển da dạng như học nghề, học tại doanh nghiệp, học trực tuyến hoặc tự học có hướng dẫn. Khi đó, việc thiết lập các cơ chế kiểm tra đánh giá việc học tập phi chính quy cũng cần được chú trọng nhằm không làm mất đi cơ hội học tập và cơ hội tiếp cận với việc làm của con người. Chẳng hạn như cơ chế ghi nhận – xác nhận – công nhận kết quả học tập phi chính quy được UNESCO khẳng định giúp công nhận giá trịngoài hệ thống giáo dục chính quy, tạo nên sự công bằng, linh hoạt và bao trùm trong học tập cũng được xem như một phương tiện quan trọng để hiện thực hóa học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam.

3.3. Vai trò của cộng đồng trong học tập suốt đời

Cộng đồng là nhóm xã hội nơi diễn ra không gian sống, làm việc và học tập hàng ngày của mỗi công dân. Cộng đồng được đặc trưng sâu sắc bởi văn hóa, do đó trong việc kiến tạo xã hội học tập bắt nguồn từ cộng đồng phải bổ sung tiếp cận văn hóa. Bối cảnh bùng nổ của trí tuệ nhân tạo cũng như nhiều thay đổi từ sự phát triển chung của nhân loại, cộng đồng đang đối mặt với nguy cơ phân mảnh và nhu cầu thay đổi nội dung học tập ngày càng được nâng cao.

Tại Việt Nam, với truyền thống hiếu học và khuyến tài từ lâu đời, học tập từ cộng đồng đã tạo đà tích cực cho việc xây dựng một xã hội học tập, nhưng đồng thời cũng cần thẳng thắn nhìn nhận những điểm yếu trong tư duy học tập của người Việt. Trong bối cảnh mà bài viết liên tục nhắc đến, việc thúc đẩy học tập thực chất trong cộng đồng cần được chú trọng, đặc biệt là bổ sung các nội dung học tập để làm chủ khoa học và công nghệ mà trước mắt là làm chủ được việc sử dụng trí tuệ nhân tạo. Các thiết chế giáo dục cộng đồng ở cấp cơ sở, tiêu biểu là Trung tâm Học tập Cộng đồng, càng cần phải chủ động và linh hoạt hơn nữa trong việc phổ cập kịp thời tri thức, công nghệ, và năng lực số đến mọi người dân nhằm thích ứng trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo.

4. Kết luận

Nhìn chung, với bối cảnh trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển với xã hội phát triển dựa trên tri thức, việc xây dựng xã hội học tập và thực hiện học tập suốt đời là yếu tố cốt lõi để giữ vững các giá trị của con người trước công nghệ. Trong chính sách giáo dục và phát triển khoa học – công nghệ của quốc gia, nhất thiết phải tiếp cận học tập suốt đời một cách toàn diện. Thông qua 03 trụ cột được đề xuất phân tích trong bài viết, có thể thấy học tập suốt đời được đặt trong hệ thống với sự tương tác và đồng bộ giữa cá nhân – tổ chức – cộng đồng. Trong đó người học cần phải làm chủ vai trò trung tâm tự chủ trong học tập, đồng thời phải ưu tiên phát triển năng lực sử dụng AI có trách nhiệm và đạo đức, xem đạo đức AI là hạt nhân không thể tách rời. Các thiết chế xã hội xoay quanh cá nhân như gia đình – tổ chức – trường học đóng vai trò kiến tạo nền móng, thúc đẩy học tập liên thế hệ, văn hóa học tập suốt đời và đảm bảo công bằng trong học tập bằng các cơ chế đối đánh giá với học tập phi chính quy. Cuối cùng, Cộng đồng là không gian sống và học tập quan trọng, nơi cần được tăng cường vai trò thông qua việc phổ cập kịp thời tri thức và năng lực số đến mọi người dân, đặc biệt qua các thiết chế giáo dục cộng đồng ở cấp cơ sở.

Tài liệu tham khảo:

[1] UNESCO, Beijing Consensus on Artificial Intelligence and Education,International Conference on Artificial Intelligence and Education, Planning Education in the AI Era: Lead the Leap, Beijing, 2019.

[2] Bộ Chính trị, “Toàn văn: Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”, Báo Điện tử Chính phủ, Aug. 28, 2025. [Online]. Available: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-71-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-119250828110759964.htm. [Accessed: Oct. 13, 2025].

[3] UNESCO, Transforming education towards SDG 4: report of a global survey on country actions to transform education, Paris, 2024.

[4] UNESCO, Artificial intelligence, blockchain and extended reality in lifelong learning, UNESCO Institute for Lifelong Learning, Hamburg, 2024.

[5] UNESCO, Making lifelong learning a reality: A handbook, UNESCO Institute for Lifelong Learning, Hamburg, 2022.

[6] Phạm Tất Dong, “Tiêu chí cốt lõi của xã hội học tập”, Báo Nhân Dân điện tử, Sep. 8, 2023. [Online]. Available: https://nhandan.vn/tieu-chi-cot-loi-cua-xa-hoi-hoc-tap-post771259.html. [Accessed: Oct. 14, 2025].

[7] S. Wang, et al., Artificial intelligence in education: A systematic literature review, Expert Systems with Applications, 252, Part A, 2024. DOI: https://doi.org/10.1016/j.eswa.2024.124167.

[8] UNESCO, Recommendation on the Ethics of Artificial Intelligence. Paris, France: UNESCO, 2022.

[9] UNESCO, International Mother Language Day: Why multilingual education is key, UNESCO Website, Mar. 15, 2024. [Online]. Available: https://www.unesco.org/en/articles/international-mother-language-day-why multilingual-education-key-intergenerational-learning [Accessed: Oct. 01, 2025]